Thứ sáu, 1/10/2010

Những người mở đường 
 
22/09/2010 0:09 
Cao Văn Lầu - Ảnh: Công Minh
Sau những “vị tổ” của truyền thuyết, sân khấu miền Nam còn thờ kính nhiều nghệ sĩ đã có công phát triển nghệ thuật một cách rực rỡ.

NSND Thành Tôn từ khi rất trẻ đã là kép hát xuất sắc của gánh hát bội bầu Thắng trụ tại Sài Gòn, đưa gánh này từ vị trí khiêm tốn trở thành đại bang. Thật ra ông nội và ba của ông cũng là kép hát và bầu gánh hát bội nổi tiếng ở miền Tây, 14 tuổi ông đã lên sân khấu đóng vai phụ. Ông bỏ đồng bằng, mạo hiểm lên Sài Gòn thử sức, lập tức thành danh. Ông còn là soạn giả nhiều tuồng hát bội và giảng dạy tại trường Sân khấu - Điện ảnh TP.HCM, đào tạo nhiều nghệ sĩ trẻ tài năng. Ông cùng với nghệ sĩ Trần Hữu Trang, Nguyễn Thành Châu tổ chức hoạt động trong nội thành dưới vỏ bọc văn nghệ. Vợ ông là nghệ sĩ Huỳnh Mai, con của ông bầu Thắng, cùng ông sinh dưỡng một thế hệ nghệ sĩ tài năng nữa là Bạch Lê, Bạch Lựu, Bạch Lý, Bạch Long, Thành Lộc.

 

 

NSND Năm Đồ - Ảnh: T.L

NSND Năm Đồ quê ở Tây Ninh, cha là nhạc sĩ đờn cò điêu luyện trong đại bang hát bội của bầu Cung. Từ nhỏ bà đã thấm màu sân khấu, nên vừa lớn lên đã được hát vai phụ, rồi nhanh chóng trở thành đào chánh. Khi hát bội chuyển sang pha cải lương, bà cũng thành công bởi có gương mặt đẹp, vóc dáng cân đối, giọng ca trầm ấm du dương, vũ đạo gọn gàng. Bà đóng được các vai đào võ như Mộc Quế Anh, Thần nữ, Lưu Kim Đính... và cả đào văn như Điêu Thuyền, Mạnh Lệ Quân... Sau giải phóng, bà về Đoàn nghệ thuật hát bội TP.HCM và thu nhiều đĩa hát, trong đó có một bộ đĩa tham dự Nhạc hội Á châu do UNESCO tổ chức, trích đoạn hát bội Yến Phi Long tiễn chồng được trao giải nhất cho nghệ thuật ca diễn xuất sắc của bà.

NSND Năm Châu (Nguyễn Thành Châu) vừa là diễn viên xuất sắc, vừa là soạn giả nhiều vở kinh điển, vừa là đạo diễn áp dụng học thuật của sân khấu phương Tây vào sân khấu Việt Nam. Ông là người Mỹ Tho, gần lấy bằng tú tài thì bỏ ngang việc học, đi theo gánh hát thầy Năm Tú, hấp thụ ảnh hưởng nghệ thuật phương Tây của thầy Tú vì thầy đi du học ở Pháp về. Vài năm sau, ông chuyển sang gánh khác và cùng NSND Phùng Há làm thành cặp đào kép nổi tiếng ăn khách, thanh sắc vẹn toàn. Năm 1923 ông bắt đầu sáng tác kịch bản. Và năm 1952 thì lập gánh Việt kịch Năm Châu. Ông chủ trương nghệ thuật cải lương phải “Thật và Đẹp”, bớt những tuồng tích cổ, dùng nhiều chữ Nho, mà chuyển sang những đề tài gần gũi cuộc sống của khán giả. Cho nên ông phóng tác nhiều tiểu thuyết Pháp như Giá trị và danh dự, Gió ngược chiều, Tơ vương đến thác... và viết lời thoại văn xuôi như kịch chứ không vần điệu, biền ngẫu như cải lương bấy giờ. Ông đem phương pháp nghệ thuật của mình đạo diễn cho đồng nghiệp, tạo nên những tên tuổi lớn như Phùng Há, Tư Út, Năm Thiên, Ngọc Trâm, Tư Sạng, Ba Liên... nên họ vẫn coi ông là sư phụ.

Năm 1962, ông là giáo sư kịch nghệ khóa đầu tiên của trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn. Năm 1969, ông là trưởng đoàn đưa nghệ sĩ cải lương miền Nam đi biểu diễn ở Pháp, Anh và các nước Tây Âu. Những năm 1950 - 1960, ông chuyển kịch bản cải lương sang điện ảnh và tham gia lồng tiếng cho phim nước ngoài khi điện ảnh mới du nhập Việt Nam. Ông hoạt động đủ các lĩnh vực, thành công rực rỡ. Con gái của ông với nữ nghệ sĩ Kim Cúc hiện nay là đạo diễn Hồng Dung, Phó chủ tịch Hội Sân khấu TP.HCM.

Soạn giả Trần Hữu Trang (Tư Trang) sinh năm 1905 tại Mỹ Tho, nghỉ học nửa chừng vì hoàn cảnh gia đình, làm đủ các nghề từ thợ hớt tóc đến chèo ghe thuê, và trở thành một tay đờn ca tài tử có tiếng. Ông được nghệ sĩ Năm Châu dìu dắt vào đoàn hát, và 1929 bắt đầu viết kịch bản. Những tác phẩm của ông đến bây giờ vẫn được xem là mẫu mực như Đời cô Lựu, Tô Ánh Nguyệt, Lan và Điệp... Xu hướng sáng tác của ông là hiện thực phê phán, lên án chế độ phong kiến thực dân hà khắc đàn áp nhân dân, nhưng vẫn ẩn chứa cái trữ tình mượt mà của thể loại cải lương.

Sau 1945, ông tham gia kháng chiến, thoát ly ra chiến khu Đồng Tháp Mười, rồi trở lại hoạt động trong tổ chức nội thành Sài Gòn, núp dưới lớp vỏ của gánh hát Con Tằm chung với nghệ sĩ Năm Châu, Bảy Nhiêu. 1960 ông được bầu làm Chủ tịch Hội Văn nghệ giải phóng miền Nam. Ông mất ở chiến khu miền Đông giữa thời kỳ sự nghiệp sáng tác và sự nghiệp cách mạng còn đang phát triển rực rỡ.

Ông Cao Văn Lầu với bài Dạ cổ hoài lang, được xem là cha đẻ của bản vọng cổ, từ đó đưa cải lương sang một bước ngoặt lịch sử. Ông quê ở Long An nhưng gia đình phiêu bạt xuống Bạc Liêu sinh sống. 15 tuổi ông đã phải lao động nuôi cha mẹ và em thơ. May nhờ sư cụ trong chùa dạy cho chữ Nho và có đến trường học thêm chữ quốc ngữ, lại theo nhạc sư Lê Tài Khị học đờn tranh, kìm, cò, trống. Ông cưới vợ, suốt ba năm mà không có con, cha mẹ bắt cưới thêm vợ lẽ, ông ôm nỗi sầu đêm đêm nắn nót cung đàn, rồi bất chợt sáng tác được bài Dạ cổ hoài lang. Bài này ban đầu chỉ là nhịp 2, sau các nghệ nhân biến thành nhịp 4, nhịp 8, nhịp 16, 32, và nhịp 64 cho đến ngày nay. Đào kép cải lương nổi bật lên phần nhiều nhờ thi thố chất giọng trong bản vọng cổ, nên khi biểu diễn họ đều đòi tác giả phải viết sao cho nhân vật của họ có ca vọng cổ thì họ mới chịu.

NSND Ba Vân được mệnh danh là Quái kiệt Ba Vân, sinh ở Bến Tre, từ nhỏ đã được học đàn tranh, đàn kìm, đánh trống, và học ca thuần thục. Khoảng 12 tuổi ông đã đi theo gánh hát, lần lượt qua các đại bang, và trở thành một kép hát đa năng, đóng đủ các loại vai hề, lão, độc, văn, võ. Nhưng ông nổi bật với khả năng diễn hài nên mới được gọi là quái kiệt. Những vở đáng nhớ của ông là Men rượu hương tình, Khi người điên biết yêu..., và sau giải phóng ông có một vai ấn tượng là ông Tám Khỏe trong vở Người ven đô làm rung động trái tim khán giả.

Hoàng Kim

(Theo Thanhnien online)